LSO-Nước là nguồn tài nguyên quý giá, một thành phần của cảnh quan địa lý và môi trường sống, được tồn tại dưới 2 loại chính là nước mặt và nước ngầm. Hiện nay, Lạng Sơn được đánh giá là một tỉnh nghèo nước so với các tỉnh trong khu vực miền núi Bắc Bộ. Lượng nước thường thiếu hụt vào mùa khô và cả mùa mưa cũng không hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước cho các mục đích khác nhau. Tài nguyên nước vẫn chưa được quản lý chặt chẽ, thống nhất.
Từ thực trạng khai thác nhiều…
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có tổng số 27 đơn vị sản xuất đang hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. Năm 2009, tổng sản lượng khai thác các nguồn nước của tỉnh đạt trên 796 triệu m3, trong đó có trên 6 triệu m3 nước đã qua xử lý, chủ yếu phục vụ sinh hoạt ăn uống. Theo số liệu thống kê của Phòng Tài nguyên nước, Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cho thấy, hiện nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh ta chủ yếu thuộc các công trình thủy lợi và hệ thống các sông, suối được khai thác phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, một phần tạo nguồn cho công trình cấp nước sinh hoạt, phát triển công nghiệp, nuôi trồng thủy sản…Ông Lương Văn Nhất, Trưởng phòng Tài nguyên nước cho biết: Đối với các công trình thủy lợi kiên cố, hiện toàn tỉnh có 271 hồ chứa, 692 đập dâng, 52 trạm bơm điện, ngoài ra còn có hơn 2.334 công trình phai tạm, khe mạch, guồng cọn. Với hai loại công trình trên hiện toàn tỉnh tưới được khoảng 23.378 ha vụ đông xuân và 24.516 ha vụ mùa. Song, có thể nói rằng, việc đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên các công trình thủy lợi là rất khó khăn và rất ít công trình được cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
 |
| Nước sạch về bản người Dao thôn Nà Xơm, xã Lợi Bác huyện Lộc Bình. |
Theo đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, nhìn chung chất lượng nước mặt của tỉnh ta tương đối tốt, đáp ứng nhu cầu phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên một số nơi ở khu vực đô thị, các hồ chứa nước gần khu dân cư có biểu hiện ô nhiễm nhẹ các hợp chất Nitơ, vi sinh nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.
Đối với tài nguyên nước dưới đất chủ yếu được khai thác phục vụ cho mục đích sinh hoạt. Tính đến hết tháng 3/2009, trong tỉnh đã có khoảng 37.730 công trình cấp nước sinh hoạt, trong đó bao gồm cả giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước tập trung, đường ống dẫn nước tự chảy, máng dẫn ở khe. Theo số liệu thống kê đến hết năm 2008 toàn tỉnh có 688.799 người được cấp nước sinh hoạt, chiếm 90,75% dân số. Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng cho ăn uống sinh hoạt vào khoảng 24.500m3/ngày đêm.
…Nhưng bảo vệ chẳng bao nhiêu
Trong những năm qua, công tác quản lý tài nguyên nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã được quản lý đúng pháp luật. Trong năm 2009, SởTN&MT đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 29 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước, 2 đơn vị hành nghề khoan nước dưới đất. Qua kết quả kiểm tra cho thấy, nhiều tổ chức, cá nhân đã có ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ nguồn nước nhằm khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý, tiết kiệm, có biện pháp phòng chống ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tổ chức, cá nhân thiếu ý thức, không chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước.
Mặc dù là một tỉnh chưa có nhiều các cơ sở sản xuất công nghiệp song tình hình xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh lại là một vấn đề đáng lo ngại. Hiện nay, toàn tỉnh có 6 đơn vị hoạt động xả nước thải vào nguồn nước và hơn 20 đơn vị xả nước thải ra môi trường. Đáng kể nhất phải nói đến Công ty TNHH một thành viên than Na Dương với khối lượng xả thải trung bình 2.877m3/ngày đêm. Trên thực tế hiện nay, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước nhìn chung có thực hiện công tác bảo vệ nguồn nước nhưng chẳng được là bao và chưa đáp ứng yêu cầu so với khối lượng khai thác, xả thải. Bởi hiện nay, mới có 1/30 đơn vị có giấy phép hoạt động xả nước thải vào nguồn nước. Số còn lại vẫn ngày đêm xả thải ra môi trường và trực tiếp vào nguồn nước làm ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nước và làm ô nhiễm môi trường.
Đánh giá về việc thực hiện công tác này, ông Nhất cho rằng: Hiện nay nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của công tác quản lý tài nguyên nước còn hạn chế và thiếu ý thức tự giác chấp hành pháp luật tài nguyên nước. Tình trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, hành nghề khoan nước dưới đất tự do, tuỳ tiện vẫn còn phổ biến. Luật Tài nguyên nước chậm được sửa đổi đến nay đã bộc lộ nhiều bất cập. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước mặt đối với các công trình thuỷ lợi còn chưa có hướng dẫn rõ ràng. Đối với công tác bảo vệ nguồn nước thực sự khó khăn, nan giải bởi các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước chưa xây dựng được hoặc xây dựng chưa hoàn chỉnh công trình xử lý nước thải…Với những tồn tại trên, thiết nghĩ trong thời gian tới các cấp, các ngành, đơn vị trên địa bàn tỉnh cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền Luật Tài nguyên nước, tổ chức thanh tra, kiểm tra thường xuyên và có chế tài xử lý vi phạm nhằm thực hiện tốt công tác khai thác, bảo vệ nguồn nước, đảm bảo nước sản xuất, sinh hoạt cũng như phục vụ các mục đích khác cho nhân dân trong tỉnh.